Bệnh viêm phổi – xẹp phổi – phổi tắc nghẽn – Ho, khó thở, mệt mỏi kéo dài ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe


Viêm phổi, xẹp phổi và phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là các bệnh lý hô hấp nguy hiểm, gây tổn thương nhu mô phổi, suy giảm chức năng trao đổi khí, khiến người bệnh ho kéo dài, khó thở, mệt mỏi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống nếu không được điều trị kịp thời.
Theo Tây y, viêm phổi thường do vi khuẩn, virus hoặc nấm gây nhiễm trùng nhu mô phổi; xẹp phổi xảy ra khi phế nang không giãn nở được do tắc nghẽn đường thở hoặc chèn ép từ bên ngoài; còn phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là hậu quả của viêm đường thở mạn tính, thường liên quan đến hút thuốc lá, ô nhiễm không khí, gây hẹp và tắc nghẽn luồng khí không hồi phục.
Trong Đông y, các bệnh lý này thuộc phạm vi chứng Phế trướng, Đàm ẩm và Háo (khiến khó thở, khò khè), gốc bệnh liên quan đến Phế khí hư suy, Tỳ Thận dương hư sinh đàm thấp ứ trệ tại Phế, khiến khí đạo bị cản trở, gây ho, khó thở kéo dài.

Viêm phổi, xẹp phổi, phổi tắc nghẽn dưới góc nhìn Đông y
Trong Đông y, các bệnh lý viêm phổi, xẹp phổi và phổi tắc nghẽn mạn tính đều liên quan mật thiết đến tạng Phế, thuộc phạm vi các chứng Khái thấu, Háo (khò khè, khó thở) và Đàm ẩm (đàm thấp ứ đọng tại Phế).
Ở giai đoạn cấp tính, thường do ngoại tà xuất hiện – phong hàn, phong nhiệt, ôn dịch xâm phạm Phế, khiến Phế khí mất tuyên giáng, gây ho, sốt, khó thở. Ở giai đoạn mạn tính, do Phế khí hư suy lâu ngày, kết hợp Tỳ Thận dương hư không vận hóa được thủy thấp, sinh đàm trọc ứ trệ tại Phế, khiến khí đạo bị cản trở nghiêm trọng, gây khó thở kéo dài, dễ tái phát khi thời tiết thay đổi.
Nguyên tắc điều trị theo Đông y là khu tà, tuyên Phế, chỉ khái ở giai đoạn cấp; kiện Tỳ bổ Thận, ích khí hóa đàm ở giai đoạn mạn để hỗ trợ phục hồi chức năng hô hấp.
Ngoại tà phạm Phế kết hợp Tỳ Thận hư suy sinh đàm thấp là nguyên nhân cốt lõi gây bệnh
Vi khuẩn, virus xâm nhập đường hô hấp kết hợp với Phế khí hư suy, Tỳ Thận dương hư không vận hóa được thủy thấp là nguyên nhân cốt lõi khiến bệnh khởi phát và tiến triển thành mạn tính, khó hồi phục.
Hai thể bệnh thường gặp nhất:

Ngoại tà xâm nhập đường hô hấp gây viêm nhiễm cấp tính
Vi khuẩn, virus, nấm xâm nhập đường hô hấp gây viêm nhiễm nhu mô phổi cấp tính; kết hợp yếu tố môi trường như khói bụi, hóa chất, thời tiết lạnh làm Phế khí uất trệ, tổn thương phế nang, dẫn đến viêm phổi hoặc xẹp phổi.

Phế Tỳ Thận hư suy sinh đàm thấp ứ trệ (thể mạn)
Hút thuốc lá lâu năm, tuổi cao, sức đề kháng suy giảm khiến Phế khí hư tổn, Tỳ Thận dương hư không vận hóa được thủy thấp, sinh đàm trọc ứ đọng tại Phế, làm hẹp và tắc nghẽn đường thở, gây khó thở kéo dài, tái phát nhiều lần.

Những ai dễ mắc viêm phổi, xẹp phổi, phổi tắc nghẽn?
- Người cao tuổi, sức đề kháng suy giảm
- Người hút thuốc lá lâu năm hoặc thường xuyên tiếp xúc khói thuốc thụ động
- Người làm việc trong môi trường ô nhiễm, nhiều khói bụi, hóa chất
- Người có bệnh lý nền về hô hấp, tim mạch hoặc suy giảm miễn dịch
- Người nằm lâu, ít vận động, sau phẫu thuật (dễ xẹp phổi)
- Trẻ nhỏ, người có sức đề kháng yếu
Nhận biết sớm giúp điều trị hiệu quả, tránh biến chứng nguy hiểm
- Ho kéo dài, khi ho có thể kèm theo đờm đặc, đờm mủ hoặc lẫn máu
- Khó thở, thở khò khè, thở gấp khi gắng sức
- Đau tức ngực, cảm giác nặng ngực
- Sốt, ớn lạnh, mệt mỏi toàn thân (thường gặp ở viêm phổi cấp)
- Môi, đầu ngón tay tím tái do thiếu oxy khi bệnh nặng
- Triệu chứng nặng dần theo thời gian, dễ tái phát khi nhiễm lạnh hoặc gắng sức

Kết hợp Đông y biện chứng và cận lâm sàng Tây y để xác định đúng thể bệnh
Tại Sinh Đông Y, chúng tôi kết hợp phương pháp tứ chẩn của Đông y (vọng – văn – vấn – thiết) cùng các phương tiện cận lâm sàng Tây y hiện đại để xác định chính xác thể bệnh, mức độ tổn thương phổi và nguyên nhân cụ thể, từ đó xây dựng phác đồ điều trị phù hợp cho từng người bệnh.
Chẩn đoán lâm sàng (Tứ chẩn Đông y)
- Vọng chẩn: Quan sát sắc mặt, môi, đầu ngón tay, kiểu thở và tư thế ngồi thở của người bệnh.
- Văn chẩn: Nghe tiếng ho, tiếng thở khò khè, đặc điểm đờm để phân biệt thể hàn hay nhiệt.
- Vấn chẩn: Hỏi về thời gian mắc bệnh, tiền sử hút thuốc, mức độ khó thở khi gắng sức, sốt.
- Thiết chẩn: Bắt mạch, sờ nắn vùng ngực để đánh giá tình trạng khí huyết và mức độ hư thực của tạng Phế.
Chẩn đoán cận lâm sàng (Tây y)
Các phương tiện cận lâm sàng giúp xác định vị trí, mức độ tổn thương phổi và nguyên nhân gây bệnh.
- X-quang phổi: phát hiện vùng viêm, xẹp phổi hoặc các tổn thương bất thường tại nhu mô phổi.
- Chụp CT ngực: đánh giá chi tiết mức độ tổn thương, phát hiện các bất thường nhỏ khó thấy trên X-quang.
- Hô hấp ký (đo chức năng phổi): đánh giá mức độ tắc nghẽn đường thở, phân loại giai đoạn COPD.
- Xét nghiệm đờm, máu: xác định tác nhân gây bệnh (vi khuẩn, virus, nấm) và mức độ viêm nhiễm.
- Đo nồng độ oxy máu (SpO2): đánh giá mức độ thiếu oxy do tổn thương phổi gây ra.
Nội soi phế quản: bắt buộc cân nhắc khi có xẹp phổi – xẹp phổi ở người lớn phải tìm nguyên nhân gây tắc nghẽn lòng phế quản (u, hạch chèn ép, nút đờm, dị vật), không được mặc định là do đàm thấp.
Tầm soát lao phổi (soi đờm AFB, GeneXpert) khi ho kéo dài trên 2–3 tuần, sốt về chiều, ra mồ hôi đêm, sụt cân – đây là bệnh còn phổ biến ở Việt Nam và rất hay bị bỏ sót, điều trị chậm sẽ lây cho người thân.
Đo khí máu động mạch khi khó thở nhiều, tím môi, lơ mơ, để đánh giá suy hô hấp và ứ CO2.
Bổ Phế Tỳ Thận, hóa đàm bình suyễn – hỗ trợ phục hồi chức năng hô hấp – phối hợp cùng điều trị chuyên khoa
Tại Sinh Đông Y, phác đồ điều trị viêm phổi, xẹp phổi và phổi tắc nghẽn mạn tính được xây dựng riêng cho từng thể bệnh, kết hợp thuốc đông dược, châm cứu và điều chỉnh sinh hoạt để hỗ trợ phục hồi chức năng hô hấp.
Thể ngoại tà phạm Phế (cấp tính): Cổ phương thường dùng: Tam ảo thang (Ma hoàng, Hạnh nhân, Cam thảo) cho thể phong hàn phạm Phế; Ma hạnh thạch cam thang cho thể đàm nhiệt ủng Phế (ho, sốt cao, đờm vàng đặc); Tang cúc ẩm hoặc Ngân kiều tán cho thể phong nhiệt phạm Phế; Thiên kim vi hành thang khi đờm tanh, có mủ. Pháp trị: tuyên Phế, chỉ khái, hóa đàm. Ma hoàng và Hạnh nhân phải dùng đúng liều theo kê đơn – xem phần Lưu ý an toàn bên dưới. Với viêm phổi cấp, thuốc thang chỉ giữ vai trò hỗ trợ, không thay thế kháng sinh và điều trị của bác sĩ.
Thể Phế khí hư (mạn tính, giai đoạn nhẹ): Cổ phương: Bổ Phế thang hợp Ngọc bình phong tán (Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Phòng phong, Ngũ vị tử) – bổ Phế ích khí, cố biểu, hỗ trợ giảm tần suất tái phát khi trở trời.
Thể Tỳ Thận dương hư sinh đàm thấp (mạn tính, giai đoạn nặng): Cổ phương: Nhị trần thang hợp Tam tử dưỡng thân thang (đàm thấp ủng thịnh), Tô tử giáng khí thang (đàm trọc, khí nghịch, khó thở nhiều khi nằm), Chân vũ thang hoặc Kim quỹ thận khí hoàn (Tỳ Thận dương hư, sợ lạnh, phù chân), Sinh mạch tán hợp Nhân sâm hồ đào thang (Thận không nạp khí, hụt hơi khi gắng sức) – kiện Tỳ táo thấp, ôn bổ Thận dương, nạp khí bình suyễn. Bán hạ phải dùng loại đã bào chế (Bán hạ chế); bán hạ sống có độc, không được dùng.
Châm cứu: Tác động vào các huyệt Phế du, Túc tam lý, Đản trung, Hợp cốc, Thái khê (huyệt Hợp cốc chống chỉ định với phụ nữ có thai) giúp điều hòa khí huyết, tăng cường chức năng Phế Thận.
Xoa bóp: Xoa bóp vùng lưng, ngực giúp thông kinh lạc, hỗ trợ tống đàm, cải thiện tuần hoàn hô hấp.
Điều chỉnh sinh hoạt: Tập thở sâu, vận động nhẹ nhàng phù hợp với thể trạng, giữ ấm cơ thể, tránh khói bụi và các tác nhân kích ứng đường hô hấp.
Lưu ý an toàn khi dùng thuốc và trị liệu
🔴 Viêm phổi là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, cần kháng sinh và điều trị của bác sĩ. Thuốc thang, châm cứu, xoa bóp chỉ giữ vai trò hỗ trợ nâng đỡ chính khí và phục hồi sau giai đoạn cấp – không thay thế kháng sinh, thuốc giãn phế quản hay thở oxy. Chậm trễ dùng kháng sinh trong viêm phổi có thể dẫn tới nhiễm khuẩn huyết và tử vong, đặc biệt ở người cao tuổi.
🔴 Không tự ý ngừng hay giảm thuốc xịt của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài, thuốc xịt chứa corticoid), thuốc lao, hay thở oxy dài hạn tại nhà do bác sĩ chỉ định. Mọi thay đổi liều do bác sĩ hô hấp quyết định.
Ma hoàng là vị thuốc mạnh: làm tăng nhịp tim, tăng huyết áp, hồi hộp, mất ngủ, bí tiểu. Không dùng cho người tăng huyết áp, bệnh mạch vành – loạn nhịp, cường giáp, phì đại tiền liệt tuyến, tăng nhãn áp, phụ nữ có thai, người thể hư ra nhiều mồ hôi. Nhiều người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là người cao tuổi có sẵn bệnh tim mạch – phải cân nhắc rất kỹ. Chỉ dùng ngắn ngày theo kê đơn.
Hạnh nhân (khổ hạnh nhân) có độc nhẹ, phải đúng liều và đúng cách bào chế, thận trọng với trẻ nhỏ. Bán hạ phải là Bán hạ chế. Tế tân nếu dùng phải đúng liều nhỏ theo kê đơn.
Cam thảo có trong hầu hết bài trị ho: dùng liều cao dài ngày gây giữ nước, tăng huyết áp, hạ kali máu – bất lợi ở người tăng huyết áp, suy tim, đang dùng lợi tiểu. Ngũ vị tử ảnh hưởng chuyển hóa thuốc tại gan. Nhân sâm, Đảng sâm, Hoàng kỳ không dùng khi đang sốt hoặc đang nhiễm khuẩn cấp (“bổ sớm giữ tà”) – chỉ dùng ở giai đoạn hồi phục.
Xoa bóp – vỗ rung lồng ngực: không làm khi đang sốt cao, ho ra máu, nghi tràn khí màng phổi, gãy xương sườn, loãng xương nặng hoặc mới mổ lồng ngực. Cứu ngải chỉ dùng cho thể hư hàn – dương hư; không cứu ngải cho thể đàm nhiệt ủng Phế (sốt, đờm vàng đặc, lưỡi đỏ rêu vàng) vì sẽ làm nặng thêm.

Thay đổi nhỏ trong sinh hoạt – bảo vệ lá phổi khỏe mạnh
- Tiêm phòng cúm, phế cầu định kỳ để giảm nguy cơ viêm phổi
- Không hút thuốc lá, hạn chế tiếp xúc khói thuốc và ô nhiễm không khí
- Giữ ấm cơ thể, đặc biệt vùng ngực và cổ khi thời tiết lạnh
- Vận động nhẹ nhàng, tập thở đều đặn để tăng cường chức năng phổi
- Vận động sớm sau phẫu thuật để phòng ngừa xẹp phổi
- Tái khám định kỳ nếu có bệnh lý hô hấp mạn tính để kiểm soát tốt tình trạng bệnh
Khi nào cần đến bệnh viện ngay
- Khó thở tăng nhanh, thở gấp, phải ngồi mới thở được, nói không hết câu phải ngắt để thở.
- Tím môi, tím đầu ngón tay, hoặc đo SpO2 dưới 94% (dưới 92% ở người bệnh phổi mạn tính) – gọi 115.
- Co kéo hõm ức, cánh mũi phập phồng; lơ mơ, lú lẫn, kích thích hoặc ngủ gà – dấu hiệu thiếu oxy và ứ CO2, là cấp cứu.
- Sốt cao rét run, ho đờm đục hoặc đờm gỉ sắt, đau ngực khi hít sâu – nghi viêm phổi, cần khám và dùng kháng sinh sớm.
- Đau ngực dữ dội kèm khó thở đột ngột một bên – nghi tràn khí màng phổi, cần cấp cứu.
- Ho ra máu, dù chỉ vài lần và số lượng ít.
- Ho kéo dài trên 3 tuần kèm sốt về chiều, ra mồ hôi đêm ướt áo, sụt cân – phải chụp phổi và xét nghiệm đờm để loại trừ lao phổi và bệnh lý ác tính, nhất là ở người hút thuốc lá.
- Người cao tuổi bị viêm phổi có thể không sốt – chỉ biểu hiện lú lẫn đột ngột, ăn kém, ngã, mệt lả. Đây là kiểu biểu hiện rất hay bị bỏ sót, cần đưa đi khám ngay.
- Xẹp phổi phát hiện trên phim: phải khám chuyên khoa hô hấp để tìm nguyên nhân tắc nghẽn (u, hạch chèn ép, dị vật, nút đờm) – không được điều trị theo hướng đàm thấp đơn thuần.
- Người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có đợt cấp (khó thở, đờm nhiều lên, đờm đổi màu) cần khám ngay, không tự tăng liều thuốc xịt tại nhà.
- Phù hai chân, gan to, tĩnh mạch cổ nổi ở người bệnh phổi mạn – nghi tâm phế mạn, cần khám tim mạch – hô hấp.
🔴 Không tự ý ngừng hoặc giảm kháng sinh, thuốc lao, thuốc xịt giãn phế quản – corticoid dạng hít, hay thở oxy dài hạn do bác sĩ chỉ định. Đông y ở đây giữ vai trò phối hợp nâng đỡ chính khí, hóa đàm, phục hồi sau đợt cấp – không thay thế.
Thông tin trên mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và chỉ định của thầy thuốc hoặc bác sĩ trực tiếp khám.
Bạn đang cần
điều trị bệnh
hiệu quả?
Liên hệ ngay với Minh Đạo Đường để được thăm khám
trực tiếp bởi thầy Sinh Đông Y.

