Đau cơ – xương – khớp: tìm đúng nguyên nhân rồi mới điều trị


Đau cơ – xương – khớp là lý do đi khám phổ biến bậc nhất, nhưng bản thân nó không phải là một bệnh mà là biểu hiện chung của rất nhiều bệnh khác nhau: từ quá tải cơ học và thoái hóa, đến viêm khớp tự miễn, gout, loãng xương, chèn ép thần kinh, và cả những bệnh nguy hiểm cần loại trừ như nhiễm khuẩn khớp hay tổn thương xương ác tính. Cùng một cơn đau vai, đau lưng, đau gối nhưng nguyên nhân khác nhau thì cách chữa khác hẳn nhau.
Trong Đông y, đau cơ xương khớp thuộc phạm vi chứng Tý – khí huyết bị bế tắc trong kinh lạc do phong, hàn, thấp, nhiệt xâm nhập trên nền chính khí hư, hoặc do huyết ứ, đàm thấp, can thận hư. Điều trị vì thế phải biện chứng: phân rõ thể bệnh, phân rõ hư – thực, và xác định được nguyên nhân theo y học hiện đại trước khi dùng thuốc lâu dài.

Đau cơ xương khớp là triệu chứng, không phải chẩn đoán
Điều quan trọng nhất khi đau kéo dài không phải là uống thuốc gì cho hết đau, mà là biết mình đau vì cái gì. Đau do thoái hóa khớp gối, đau do viêm khớp dạng thấp, đau do gout, đau do loãng xương gãy lún đốt sống và đau do lao cột sống đều biểu hiện là đau – nhưng nếu chữa nhầm hướng thì vừa mất thời gian vừa để lỡ giai đoạn điều trị có ích nhất.
Vì vậy trang này không nhằm bán một phác đồ chung cho mọi kiểu đau, mà giúp người bệnh hiểu các nhóm nguyên nhân, các dấu hiệu cần đi khám ngay, và vai trò thực tế của y học cổ truyền trong điều trị phối hợp.
Vì sao đau cơ xương khớp hay kéo dài và dễ tái phát?
Cơ – gân – dây chằng – sụn khớp – xương là một hệ thống chịu lực. Khi tải trọng vượt quá khả năng chịu đựng, hoặc khi mô bị viêm, thoái hóa, mất chất khoáng, hoặc khi thần kinh chi phối bị chèn ép, cơ thể sẽ báo bằng cơn đau. Đau kéo dài lại làm người bệnh ít vận động, cơ yếu đi, khớp càng kém vững – tạo thành vòng luẩn quẩn. Ba nhóm nguyên nhân dưới đây bao trùm phần lớn các trường hợp.

1. Nhóm cơ học: quá tải, sai tư thế, thoái hóa
Hay gặp nhất. Gồm căng cơ – giãn dây chằng do vận động quá sức hay sai kỹ thuật, đau cổ vai gáy và đau thắt lưng do ngồi lâu sai tư thế, thoái hóa khớp gối – khớp háng – cột sống, viêm gân và viêm bao gân do lặp động tác, thoát vị đĩa đệm chèn ép rễ thần kinh. Đặc điểm: đau tăng khi vận động hoặc chịu lực, giảm khi nghỉ; cứng khớp buổi sáng thường ngắn, dưới 30 phút. Theo Đông y phần lớn thuộc thể phong – hàn – thấp tý hoặc huyết ứ, trên nền can thận hư ở người có tuổi.

2. Nhóm viêm: bệnh khớp tự miễn, gout, nhiễm khuẩn
Ít gặp hơn nhưng quan trọng hơn nhiều vì cần điều trị chuyên khoa sớm. Gồm viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp vảy nến, lupus ban đỏ, gout và viêm khớp nhiễm khuẩn. Đặc điểm gợi ý: khớp sưng nóng đỏ, cứng khớp buổi sáng kéo dài trên một giờ, đau cả khi nghỉ và đau về đêm làm tỉnh giấc, đối xứng hai bên, kèm sốt – sụt cân – mệt mỏi toàn thân. Theo Đông y thường là thể phong thấp nhiệt tý. Nhóm này không được điều trị đơn thuần bằng thuốc thang trong thời gian dài: chậm dùng thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm sẽ dẫn tới phá huỷ khớp không hồi phục, còn viêm khớp nhiễm khuẩn để quá 24 giờ có thể hỏng khớp vĩnh viễn.

3. Nhóm ngoài khớp và nhóm nguy hiểm phải loại trừ
Nhiều cơn đau tưởng là đau xương khớp nhưng thực ra không phải: loãng xương gãy lún đốt sống ở người cao tuổi; đau cơ do thuốc hạ mỡ máu nhóm statin; đau mỏi toàn thân do suy giáp, thiếu vitamin D, đái tháo đường, thiếu máu; đau cơ xơ hóa; và đau do bệnh lý nội tạng lan chiếu – đau vai trái hoặc đau vùng thượng vị kèm vã mồ hôi, khó thở có thể là nhồi máu cơ tim. Đáng ngại nhất là nhóm cờ đỏ: nhiễm khuẩn cột sống, lao cột sống, và tổn thương xương do bệnh lý ác tính di căn – biểu hiện bằng đau về đêm không giảm khi nghỉ, sốt kéo dài, sụt cân nhanh, mồ hôi đêm ướt áo, đau ở người có tiền sử bệnh nặng. Những trường hợp này phải chụp chiếu và khám chuyên khoa, không xoa bóp hay uống thuốc kéo dài.

Ai dễ bị đau cơ xương khớp kéo dài
- Người lao động nặng, mang vác nhiều, làm việc lặp đi lặp lại một động tác
- Người ngồi lâu, làm việc với máy tính, lái xe đường dài, ít vận động
- Người chơi thể thao không khởi động kỹ hoặc tập sai kỹ thuật, tăng cường độ đột ngột
- Người thừa cân – béo phì: mỗi ký thừa làm tăng nhiều lần lực đè lên khớp gối
- Phụ nữ sau mãn kinh và người trên 65 tuổi (nguy cơ loãng xương)
- Người có bệnh nền: đái tháo đường, bệnh tuyến giáp, bệnh thận mạn, bệnh tự miễn, gout
- Người dùng corticoid kéo dài, người từng gãy xương sau va chạm nhẹ
- Người hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia – làm chậm liền mô và giảm mật độ xương
- Người có tiền sử chấn thương, phẫu thuật xương khớp cũ
Dấu hiệu cần chú ý và cách tự phân biệt bước đầu
- Đau tăng khi vận động, giảm khi nghỉ, cứng khớp buổi sáng dưới 30 phút – thiên về nguyên nhân cơ học, thoái hóa.
- Đau cả khi nghỉ, đau về đêm làm tỉnh giấc, cứng khớp buổi sáng trên một giờ, sưng nóng đỏ, đối xứng hai bên – thiên về bệnh khớp viêm, cần khám chuyên khoa cơ xương khớp.
- Đau như dao đâm, cố định một chỗ, ấn vào đau tăng, có bầm tím – thiên về huyết ứ, thường sau chấn thương.
- Đau lan xuống chân theo đường dây thần kinh, kèm tê bì, kiến bò, yếu cơ – gợi ý chèn ép rễ thần kinh.
- Đau khớp bàn ngón chân cái sưng đỏ dữ dội trong đêm – rất gợi ý cơn gout cấp.
- Đau mỏi toàn thân, kèm mệt, sợ lạnh, tăng cân, táo bón – nên kiểm tra tuyến giáp; kèm đau cơ và nước tiểu sẫm màu ở người đang uống statin – nghi tiêu cơ vân, báo bác sĩ ngay.
- Đau tăng dần không rõ chấn thương ở người cao tuổi, kèm sụt cân, sốt, mồ hôi đêm – phải đi khám, không tự điều trị.

Xác định đúng nguyên nhân trước khi điều trị
Người bệnh cần được khám kết hợp: biện chứng theo tứ chẩn của Đông y để xác định thể bệnh và pháp trị, đồng thời làm các thăm dò của y học hiện đại để loại trừ những nguyên nhân bắt buộc phải điều trị chuyên khoa. Hai việc này bổ sung cho nhau chứ không thay thế nhau. Khi khám, người bệnh nên mang theo toàn bộ đơn thuốc, hộp thuốc và kết quả xét nghiệm – chụp chiếu đã có.
Chẩn đoán lâm sàng (theo Đông y):
- Vọng chẩn (nhìn): quan sát dáng đi, tư thế, độ vẹo cột sống, teo cơ, biến dạng khớp, sưng nề, bầm tím, nốt tophi ở vành tai và quanh khớp (gout), tổn thương da vảy nến, ban cánh bướm ở mặt (lupus); lưỡi nhợt rêu trắng (hàn thấp), lưỡi đỏ rêu vàng nhớt (thấp nhiệt), lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, tĩnh mạch dưới lưỡi giãn tím (huyết ứ).
- Văn chẩn (nghe – ngửi): nghe tiếng lạo xạo, lục cục trong khớp khi vận động (thoái hóa); nghe tiếng nói yếu, hụt hơi (khí hư), tiếng thở dài nhiều lần (can khí uất, khí trệ sinh huyết ứ); tiếng rên khi trở mình gợi mức độ đau thật; ngửi mùi hôi ở vùng tổn thương kèm chảy dịch là dấu hiệu nhiễm khuẩn, phải khám ngay.
- Vấn chẩn (hỏi): hỏi vị trí, tính chất và giờ đau trong ngày; đau di chuyển nhiều khớp (phong tý), đau dữ dội cố định và sợ lạnh, chườm ấm dễ chịu (hàn tý), đau nặng nề tê bì, trời ẩm thấp đau tăng (thấp tý), khớp sưng nóng đỏ và sợ nóng (nhiệt tý); hỏi cứng khớp buổi sáng kéo dài bao lâu, có sốt – sụt cân – mồ hôi đêm không; tiền sử chấn thương, phẫu thuật, bệnh tự miễn, gout, loãng xương; và toàn bộ thuốc đang dùng, đặc biệt corticoid, thuốc chống đông, statin.
- Thiết chẩn (bắt mạch – sờ nắn): sờ tìm điểm đau chói, khối cứng, nhiệt độ da vùng khớp, tràn dịch khớp, đánh giá tầm vận động và sức cơ; mạch phù (phong), trầm trì (hàn), nhu hoãn (thấp), hoạt sác (nhiệt), sáp hoặc huyền sáp (huyết ứ), trầm tế vô lực (can thận hư).
- Biện thể thường gặp: phong tý, hàn tý (thống tý), thấp tý (trước tý), phong thấp nhiệt tý, đàm thấp ứ trở, huyết ứ, và can thận hư – khí huyết hư là gốc ở người bệnh lâu ngày, người cao tuổi. Trên thực tế thường là hư thực lẫn lộn: khi đang có thực tà (khớp sưng nóng đỏ, đau dữ dội) thì phải khu tà trước, chưa bổ ngay, vì bổ sớm sẽ giữ tà lại.
Chẩn đoán cận lâm sàng (theo Y học hiện đại):
- Máu lắng, CRP, công thức máu: phân biệt đau do viêm với đau cơ học.
- RF, anti-CCP, ANA, HLA-B27: khi nghi viêm khớp dạng thấp, lupus, viêm cột sống dính khớp.
- Acid uric máu, dịch khớp: chẩn đoán gout. Chọc hút dịch khớp là bắt buộc khi khớp sưng nóng đỏ kèm sốt để loại trừ viêm khớp nhiễm khuẩn.
- Đo mật độ xương (DEXA), canxi, vitamin D 25-OH: loãng xương diễn ra âm thầm, chỉ phát hiện khi đo. Cần cho phụ nữ sau mãn kinh, người trên 65 tuổi, người dùng corticoid kéo dài, người gãy xương sau va chạm nhẹ.
- TSH – FT4, đường huyết – HbA1c, chức năng gan thận, men cơ CK: tìm nguyên nhân toàn thân của đau mỏi kéo dài, trong đó có đau cơ do thuốc statin.
- X-quang: đánh giá thoái hóa, hẹp khe khớp, gai xương, gãy xương, biến dạng. Phải chụp X-quang trước khi nắn chỉnh nếu nghi gãy xương hay trật khớp.
- Siêu âm phần mềm: viêm gân, viêm bao gân, tràn dịch khớp, tụ máu.
- MRI: khi nghi thoát vị đĩa đệm chèn ép, tổn thương dây chằng – sụn chêm, tổn thương tuỷ sống, nhiễm khuẩn hoặc u xương. Không chụp thường quy cho mọi trường hợp đau lưng.
- Điện cơ – đo dẫn truyền thần kinh: khi có tê bì, yếu cơ, nghi chèn ép thần kinh ngoại biên.
Điều trị bằng y học cổ truyền, phối hợp cùng y học hiện đại
- Nguyên tắc: khu phong – tán hàn – trừ thấp – thanh nhiệt tuỳ thể, kết hợp hoạt huyết thông lạc, và bổ can thận – ích khí huyết khi bệnh lâu ngày. Có thực tà thì khu tà trước, bổ sau.
- Cổ phương theo thể:
– Phong tý (đau di chuyển): Phòng phong thang, Quyên tý thang.
– Hàn tý – thống tý (đau dữ dội cố định, sợ lạnh): Ô đầu thang, Quế chi phụ tử thang, Ma hoàng phụ tử tế tân thang.
– Thấp tý (nặng nề, tê bì): Ý dĩ nhân thang, Trừ thấp quyên tý thang.
– Phong thấp nhiệt tý (sưng nóng đỏ): Bạch hổ gia quế chi thang, Tuyên tý thang, Tứ diệu tán.
– Huyết ứ, đau cố định về đêm: Thân thống trục ứ thang; vùng ngực dùng Huyết phủ trục ứ thang, vùng bụng trên – gan dùng Cách hạ trục ứ thang, bụng dưới dùng Thiếu phúc trục ứ thang – chọn bài theo vị trí là điểm mấu chốt của nhóm bài trục ứ.
– Đàm thấp ứ trở, người thừa cân: Nhị trần thang hợp Đào hồng ẩm.
– Can thận hư, khí huyết hư, đau lưng mỏi gối lâu ngày: Độc hoạt tang ký sinh thang, Tam tý thang, Hổ tiềm hoàn, Kim quỹ thận khí hoàn hoặc Lục vị địa hoàng hoàn tuỳ dương hư hay âm hư; chuột rút co cứng dùng Thược dược cam thảo thang. - Châm cứu, điện châm, thuỷ châm: giúp giảm đau, giảm co cứng cơ, cải thiện tầm vận động và giấc ngủ. Châm cứu không tái tạo được sụn khớp, không phục hồi chiều cao đĩa đệm, không giải phóng chèn ép cơ học của rễ thần kinh và không làm tăng mật độ xương – đây là những điều cần nói rõ để người bệnh có kỳ vọng đúng.
- Cứu ngải – chỉ dùng cho thể hàn, thấp, dương hư: ôn kinh tán hàn, thông lạc chỉ thống. Không cứu ngải, không chườm nóng, không xoa dầu nóng hay rượu thuốc lên khớp đang sưng nóng đỏ, lên cơn gout cấp, lên vùng mới chấn thương trong 48–72 giờ đầu, và không cứu lên vùng da vảy nến (hiện tượng Koebner làm tổn thương lan rộng). Người cao tuổi da mỏng, cảm giác nóng giảm nên chỉ hơ ấm cách xa; người đái tháo đường có biến chứng thần kinh mất cảm giác bàn chân tuyệt đối không cứu ngải và không ngâm chân nước nóng ở chân.
- Xoa bóp – bấm huyệt, giác hơi: giảm co cứng cơ, tăng tuần hoàn tại chỗ. Không xoa bóp mạnh lên khớp đang viêm cấp, vùng nghi gãy xương chưa chụp phim, vùng nhiễm khuẩn, người loãng xương nặng hay đang dùng thuốc chống đông; không vặn bẻ mạnh vùng cổ – nguy hiểm ở người có bệnh lý tuỷ cổ hoặc mảng xơ vữa động mạch cảnh, đốt sống; không xoa bóp bắp chân đang sưng đau nóng đỏ nghi huyết khối tĩnh mạch sâu vì có thể làm cục máu bong ra gây thuyên tắc phổi. Không giác hơi lên vùng da vảy nến.
- Chấn thương mềm trong 48–72 giờ đầu: nghỉ – chườm mát – băng ép – kê cao chi. Tuyệt đối không xoa dầu nóng, không xoa rượu thuốc, không nắn bẻ, không xoa bóp mạnh vào chỗ mới chấn thương vì sẽ làm chảy máu và sưng nề nặng thêm.
- Tập luyện phục hồi là phần điều trị bắt buộc, không phải phần phụ: tập tăng sức cơ quanh khớp và tập kháng lực vừa sức chống teo cơ, mất xương; giảm cân ở người thừa cân là biện pháp hiệu quả nhất cho khớp gối.
- Lưu ý an toàn về vị thuốc: Phụ tử phải là Phụ tử chế, sắc trước, chỉ dùng theo kê đơn. Ô đầu, Thảo ô rất độc, phải dùng loại đã bào chế đúng, sắc kỹ, liều nhỏ. Mã tiền tử rất độc – nếu dùng phải là Mã tiền chế, liều rất nhỏ theo kê đơn, quá liều gây co giật, cứng hàm. Tế tân chỉ dùng liều nhỏ. Cam thảo liều cao dài ngày gây giữ nước, tăng huyết áp, hạ kali máu và làm tăng độc tính digoxin. Nhóm hoạt huyết (Đương quy, Đan sâm, Xuyên khung, Tam thất, Hồng hoa, Kê huyết đằng, Nghệ liều cao) dùng cùng thuốc chống đông hoặc chống kết tập tiểu cầu làm tăng nguy cơ chảy máu; chống chỉ định ở phụ nữ có thai. Ý dĩ không dùng cho phụ nữ có thai. Phụ nữ chậm kinh phải thử thai trước khi điều trị. Rượu thuốc xoa bóp chỉ dùng ngoài da, tuyệt đối không được uống, không xoa lên da trầy xước hay khớp đang viêm cấp.
- ⚠️ Không mua thuốc xương khớp trôi nổi: rất nhiều loại thuốc tễ, thuốc bột, thuốc nam quảng cáo chữa xương khớp bị trộn lén corticoid và thuốc giảm đau chống viêm. Uống vào hết đau rất nhanh nên người bệnh tin tưởng, nhưng dùng lâu gây loét và xuất huyết dạ dày, loãng xương, tăng huyết áp, tăng đường huyết, mặt tròn, suy tuyến thượng thận; ngừng đột ngột có thể nguy hiểm tính mạng. Đây là nhóm bệnh đau nhiều và kéo dài nên nguy cơ bị lợi dụng cao nhất.
- Phối hợp, không thay thế: y học cổ truyền có thế mạnh trong giảm đau, giảm co cứng, phục hồi vận động và nâng đỡ chính khí. Người đang điều trị bệnh khớp tự miễn (DMARDs, hydroxychloroquine, corticoid), gout, loãng xương, đái tháo đường, tăng huyết áp không được tự ý ngừng hay giảm liều thuốc; mọi thay đổi phải do bác sĩ điều trị quyết định. Hãy báo cho cả bác sĩ và thầy thuốc y học cổ truyền biết mình đang dùng những thuốc gì.

Phòng bệnh – giữ gìn cơ xương khớp lâu dài
- Vận động đều đặn, vừa sức, không nghỉ hoàn toàn khi đau – nằm bất động lâu làm cơ yếu nhanh và khớp cứng thêm
- Khởi động kỹ trước khi chơi thể thao, tăng cường độ tập từ từ, học đúng kỹ thuật
- Giữ cân nặng hợp lý: giảm cân là biện pháp hiệu quả nhất để giảm đau khớp gối
- Sửa tư thế làm việc, đứng dậy đi lại sau mỗi 45–60 phút ngồi; nâng vật nặng bằng cách gập gối, giữ lưng thẳng, không xoay người khi đang mang vác
- Ăn đủ đạm, rau xanh, thực phẩm giàu canxi; tắm nắng sớm để có vitamin D; hạn chế rượu bia, bỏ thuốc lá
- Người bệnh gout: hạn chế bia rượu, nội tạng, hải sản, nước ngọt có đường; uống đủ nước
- Giữ ấm cổ, vai, lưng, gối khi trời lạnh và ẩm; không nằm điều hoà thổi thẳng vào vùng đau
- Khám định kỳ và đo mật độ xương khi có nguy cơ loãng xương
- Phòng ngã ở người cao tuổi: đèn ngủ ở lối đi, bỏ thảm trơn, lắp tay vịn nhà tắm, đi dép có ma sát tốt, đứng dậy theo hai nhịp
Khi nào cần đến bệnh viện ngay
- Bí tiểu hoặc không tự chủ đại tiểu tiện, tê vùng bẹn – tầng sinh môn kiểu yên ngựa, yếu liệt hai chân tiến triển nhanh – nghi hội chứng đuôi ngựa, là cấp cứu ngoại khoa cần mổ giải ép sớm, để muộn có thể liệt và mất tự chủ vĩnh viễn.
- Đi loạng choạng, hai tay vụng về, hay đánh rơi đồ, tê lan hai tay – nghi bệnh lý tuỷ cổ, cần chụp MRI và khám ngoại thần kinh. Tuyệt đối không vặn bẻ, không kéo giãn mạnh vùng cổ.
- Khớp sưng nóng đỏ, đau dữ dội kèm sốt rét run – phải loại trừ viêm khớp nhiễm khuẩn: chọc hút dịch khớp và dùng kháng sinh trong vòng 24 giờ. Không xoa bóp, không cứu ngải, không chườm nóng lên khớp đang viêm.
- Đau bàn tay sưng nóng, ngón ở tư thế gấp, đau vọt khi duỗi thụ động ngón (dấu hiệu Kanavel) – nghi viêm bao gân gấp nhiễm khuẩn, cần mổ dẫn lưu trong 24 giờ.
- Sau chấn thương: đau tăng dữ dội không tương xứng, chi căng cứng, tê, đầu chi tái lạnh, đau vọt khi duỗi thụ động – nghi hội chứng chèn ép khoang, cấp cứu ngoại khoa.
- Biến dạng chi, không tỳ được, đau chói trên xương sau chấn thương – nghi gãy xương hoặc trật khớp: phải chụp X-quang trước khi nắn, không tự nắn bẻ. Trật khớp háng cần nắn trong 6 giờ.
- Đau lưng về đêm không giảm khi nghỉ, sốt kéo dài, sụt cân nhanh, mồ hôi đêm ướt áo, nổi hạch, hoặc đau ở người có tiền sử bệnh nặng – phải chụp chiếu và khám chuyên khoa để loại trừ nhiễm khuẩn cột sống, lao cột sống và tổn thương xương do bệnh lý ác tính. Không xoa bóp hay uống thuốc kéo dài khi chưa rõ nguyên nhân.
- Gãy xương sau va chạm rất nhẹ (ngã ngồi, ho mạnh, cúi nhấc vật nhẹ), hoặc giảm chiều cao, gù lưng tăng nhanh, đau lưng đột ngột ở người cao tuổi – nghi gãy lún đốt sống do loãng xương, cần đo mật độ xương và điều trị chuyên khoa.
- Đau vai trái, đau vùng thượng vị hoặc đau ngực kèm vã mồ hôi, khó thở, buồn nôn – có thể là nhồi máu cơ tim, không được coi là đau vai gáy hay đau dạ dày. Gọi 115, không tự đi xe máy đến viện.
- Sưng đau một bên bắp chân, nóng đỏ, căng tức, nhất là sau bất động lâu, sau mổ, sau bó bột – nghi huyết khối tĩnh mạch sâu. Không xoa bóp, không chườm nóng. Nếu kèm khó thở đột ngột, đau ngực, ho ra máu, ngất – nghi thuyên tắc phổi, gọi 115 ngay.
- Đau cơ lan toả kèm nước tiểu sẫm màu như nước trà ở người đang uống thuốc hạ mỡ máu nhóm statin – nghi tiêu cơ vân, báo bác sĩ ngay, không tự bỏ thuốc.
- Không tự ý ngừng hoặc giảm liều thuốc điều trị bệnh khớp tự miễn (DMARDs, hydroxychloroquine, corticoid), thuốc gout, thuốc loãng xương, thuốc huyết áp, thuốc chống đông. Ngừng corticoid đột ngột sau khi dùng dài ngày có thể gây suy tuyến thượng thận cấp. Mọi thay đổi phải do bác sĩ điều trị quyết định.
- Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú, người bệnh gan – thận, người đang dùng thuốc chống đông phải báo rõ trước khi dùng thuốc thang, châm cứu hay xoa bóp. Phụ nữ chậm kinh cần thử thai trước khi điều trị. Huyệt Hợp cốc, Tam âm giao, Khí hải, Quan nguyên, Trung cực, Kiên tỉnh, Côn lôn và vùng bụng dưới – thắt lưng cùng là chống chỉ định khi có thai.
Thông tin trên mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và chỉ định của thầy thuốc hoặc bác sĩ trực tiếp khám. Mức độ và thời gian cải thiện khác nhau ở mỗi người, không có cam kết chung.
Bạn đang cần
điều trị bệnh
hiệu quả?
Liên hệ ngay với Minh Đạo Đường để được thăm khám
trực tiếp bởi thầy Sinh Đông Y.
