Bệnh viêm họng hạt mạn tính – Dai dẳng, dễ tái phát, ảnh hưởng giọng nói và sinh hoạt


Viêm họng hạt mạn tính là tình trạng viêm nhiễm kéo dài ở niêm mạc họng, khiến các nang lympho ở thành sau họng quá phát thành từng hạt to nhỏ không đều, gây cảm giác vướng, ngứa rát, ho khan, hắng giọng liên tục.
Theo Tây y, bệnh thường là hậu quả của viêm họng cấp tái phát nhiều lần, viêm mũi xoang mạn, trào ngược dạ dày – thực quản hoặc kích ứng do khói bụi, thuốc lá không được điều trị triệt để.
Trong Đông y, viêm họng hạt mạn tính thuộc phạm vi chứng “Hầu tý”, gốc bệnh do Phế Thận âm hư sinh hư hỏa bốc lên họng, kết hợp đàm thấp ứ trệ lâu ngày tại kinh lạc vùng hầu họng, khiến bệnh dai dẳng, tái đi tái lại theo thời tiết và khi cơ thể suy nhược.

Viêm họng hạt mạn tính dưới góc nhìn Đông y
Trong Đông y, viêm họng hạt mạn tính được xếp vào chứng “Hầu tý” hoặc “Mạn hầu tý” (họng tê bế mạn tính), phần nhiều do Phế Thận âm hư khiến hư hỏa nung nấu ở họng, hoặc do Tỳ Vị hư yếu sinh đàm thấp, đàm trọc theo kinh lạc ứ đọng tại họng mà kết thành hạt.
Ngoài ra, người hay cáu giận, Can khí uất kết hóa hỏa cũng khiến họng nóng rát, hạt lympho ngày càng to.
Khác với viêm họng cấp (thường do phong nhiệt, phong hàn xâm phạm Phế vệ, khởi phát nhanh, khỏi sau vài ngày), viêm họng hạt mạn tính là bệnh của tạng phủ hư tổn bên trong, cần điều trị bền bỉ, chú trọng bổ Phế Thận âm, thanh hư hỏa, hóa đàm tán kết thay vì chỉ kháng viêm tại chỗ.
Phế Thận âm hư, đàm hỏa ứ kết tại họng là gốc rễ gây bệnh
Viêm họng hạt mạn tính hình thành chủ yếu từ sự suy yếu của tạng Phế Thận và rối loạn chức năng Tỳ Vị, khiến hư hỏa và đàm thấp ứ kết lâu ngày tại họng. Bên cạnh đó, Can khí uất kết hóa hỏa, ngoại tà phong hàn – phong nhiệt tái phạm nhiều lần, viêm mũi xoang mạn, trào ngược dạ dày – thực quản cùng với môi trường ô nhiễm, khói bụi, thuốc lá, rượu bia cũng là những yếu tố thường gặp khiến bệnh trầm trọng và tái phát dai dẳng.
Hai yếu tố cốt lõi thường gặp nhất:
Ngoài ra, bệnh còn liên quan đến các yếu tố khác:
3. Can khí uất kết hóa hỏa: Căng thẳng, uất ức kéo dài khiến Can khí nghịch lên, hóa hỏa đốt tân dịch vùng họng.
4. Ngoại tà xâm nhập tái diễn: Phong nhiệt, phong hàn tái phạm nhiều lần không được giải triệt để, tích tụ thành nhiệt độc mạn ở họng.
5. Viêm mũi xoang mạn, trào ngược dịch vị: Dịch mũi xoang chảy xuống họng hoặc acid dạ dày trào ngược ban đêm liên tục kích thích niêm mạc họng.
6. Môi trường ô nhiễm, thuốc lá, rượu bia: Khói bụi, hóa chất, nói to, nói nhiều do đặc thù nghề nghiệp (giáo viên, ca sĩ, bán hàng) làm tổn thương niêm mạc họng kéo dài.

1. Phế Thận âm hư, hư hỏa viêm họng
Âm dịch hao tổn do thức khuya, nói nhiều, sốt kéo dài khiến hư hỏa bốc lên gây khô rát, viêm mạn ở họng.

2. Đàm thấp ứ trệ do Tỳ Vị hư yếu
Tỳ hư không vận hóa được thủy thấp, sinh đàm trọc theo kinh lạc lên đọng tại họng, kết thành hạt.

3. Can khí uất kết hóa hỏa
Căng thẳng, uất ức kéo dài khiến Can khí nghịch lên, hóa hỏa đốt tân dịch vùng họng.

4. Ngoại tà xâm nhập tái diễn
Phong nhiệt, phong hàn tái phạm nhiều lần không được giải triệt để, tích tụ thành nhiệt độc mạn ở họng.

5. Viêm mũi xoang mạn, trào ngược dịch vị
Dịch mũi xoang chảy xuống họng hoặc acid dạ dày trào ngược ban đêm liên tục kích thích niêm mạc họng.

6. Môi trường ô nhiễm, thuốc lá, rượu bia
Khói bụi, hóa chất, nói to, nói nhiều do đặc thù nghề nghiệp (giáo viên, ca sĩ, bán hàng) làm tổn thương niêm mạc họng kéo dài.

Những ai dễ mắc viêm họng hạt mạn tính?
- Giáo viên, phát thanh viên, ca sĩ, người bán hàng phải nói nhiều, nói to thường xuyên
- Người hút thuốc lá, uống rượu bia nhiều
- Người bị viêm mũi xoang mạn, viêm amidan mạn tính
- Người bị trào ngược dạ dày – thực quản (GERD)
- Người làm việc trong môi trường ô nhiễm, nhiều khói bụi, hóa chất
- Người hay thức khuya, căng thẳng, cơ địa âm hư
Nhận biết sớm giúp điều trị hiệu quả, tránh biến chứng
- Cảm giác vướng, ngứa, khô rát họng thường xuyên, đặc biệt buổi sáng
- Ho khan hoặc ho có đờm, hay hắng giọng, khạc đờm liên tục
- Thành sau họng nổi các hạt đỏ to nhỏ không đều khi soi
- Giọng khàn nhẹ, nói lâu dễ mệt, mất tiếng khi tái phát nặng
- Triệu chứng nặng hơn khi thay đổi thời tiết, nói nhiều, ăn cay nóng hoặc thức khuya
- Có thể kèm hôi miệng, cảm giác nuốt vướng như có dị vật trong họng

Kết hợp Đông y biện chứng và cận lâm sàng Tây y để xác định đúng thể bệnh
Tại Sinh Đông Y, chúng tôi kết hợp phương pháp tứ chẩn của Đông y (vọng – văn – vấn – thiết) cùng các phương tiện cận lâm sàng Tây y hiện đại để xác định chính xác thể bệnh, mức độ tổn thương và nguyên nhân cụ thể, từ đó xây dựng phác đồ điều trị phù hợp cho từng người bệnh.
Chẩn đoán lâm sàng (Tứ chẩn Đông y)
- Vọng chẩn: quan sát sắc họng đỏ, hạt lympho, chất lưỡi đỏ ít rêu (âm hư) hay rêu nhớt (đàm thấp).
- Văn chẩn: nghe giọng nói (khàn, hụt hơi, phải đằng hắng lấy giọng), tiếng ho, tiếng thở; ngửi hơi thở – hơi thở hôi gợi ổ viêm mạn, bã đậu hốc amidan hoặc trào ngược dạ dày.
- Vấn chẩn: hỏi thời gian mắc bệnh, thói quen sinh hoạt, nghề nghiệp, tiền sử viêm mũi xoang, trào ngược.
- Thiết chẩn: bắt mạch xác định thể Phế Thận âm hư, đàm thấp hay Can hỏa vượng.
Chẩn đoán cận lâm sàng (Tây y)
- Nội soi tai mũi họng: đánh giá trực tiếp mức độ quá phát hạt lympho thành sau họng, tình trạng sung huyết niêm mạc.
- Xét nghiệm dịch họng: khi nghi ngờ bội nhiễm vi khuẩn để lựa chọn kháng sinh phù hợp.
- Nội soi dạ dày hoặc đo pH thực quản: khi nghi ngờ trào ngược dạ dày – thực quản là nguyên nhân phối hợp gây bệnh.
- Chụp X-quang hoặc CT xoang: khi nghi ngờ viêm mũi xoang mạn tính kèm theo.
Việc kết hợp hai phương pháp giúp xác định chính xác thể bệnh Đông y và nguyên nhân thực thể Tây y, từ đó xây dựng phác đồ điều trị toàn diện, hạn chế tái phát.
Bổ Phế Thận âm, thanh hư hỏa, hóa đàm tán kết – điều trị theo gốc bệnh tại Sinh Đông Y
Dùng thuốc thảo dược theo thể bệnh:
- ➤ Thể Phế Thận âm hư: Dưỡng âm thanh phế thang hoặc Bách hợp cố kim thang (Sa sâm, Mạch môn, Huyền sâm, Sinh địa, Bách hợp); hư hoả bốc nhiều dùng Tri bá địa hoàng hoàn – dưỡng âm nhuận Phế, giáng hư hoả
- ➤ Thể đàm thấp – đàm khí uất kết (cảm giác vướng như có vật ở họng, khạc không ra, nuốt không xuống – chứng mai hạch khí): Bán hạ hậu phác thang, hoặc Nhị trần thang hợp Cát cánh thang (Cát cánh, Bán hạ chế, Trần bì, Phục linh, Cam thảo) – hóa đàm lợi hầu, hành khí tán kết. Bán hạ phải là Bán hạ đã bào chế; bán hạ sống có độc
- ➤ Thể Can hoả vượng: Đan chi tiêu dao tán, hoặc Long đởm tả can thang khi hoả thịnh (Chi tử, Hạ khô thảo, Cúc hoa, Sài hồ) – thanh Can tả hoả, sơ can giải uất. Long đởm tả can thang tính đại hàn, chỉ dùng ngắn ngày, không dùng cho người tỳ vị hư hàn và phụ nữ có thai
- Dạng thuốc sắc, hoặc ngậm – súc họng bằng thảo dược
Châm cứu – khai thông kinh lạc vùng hầu họng:
- ➤ Các huyệt Liêm tuyền, Thiên đột, Hợp cốc, Xích trạch, Chiếu hải (huyệt Hợp cốc chống chỉ định với phụ nữ có thai)
- ➤ Hỗ trợ giảm cảm giác vướng, khô rát và ngứa họng. Cần nói rõ: hạt ở thành sau họng là các nang lympho phản ứng do viêm kéo dài – châm cứu và thuốc thang giúp cải thiện triệu chứng và giảm yếu tố kích thích, chứ không làm biến mất các hạt này
Xoa bóp – bấm huyệt vùng cổ, gáy:
- ➤ Tăng tuần hoàn khí huyết vùng họng, giảm khô rát mạn tính
Điều chỉnh sinh hoạt – luyện thở:
- ➤ Hạn chế nói to, nói nhiều liên tục; tránh cay nóng, thuốc lá, rượu bia
- ➤ Kết hợp điều trị trào ngược, viêm mũi xoang nếu có phối hợp
Lưu ý an toàn khi dùng thuốc và trị liệu
🔴 Không lạm dụng đốt hạt (đốt điện, đốt laser, áp lạnh) ở thành sau họng. Các hạt lympho là mô miễn dịch phản ứng với tình trạng viêm kéo dài; đốt chỉ xử lý phần nhìn thấy mà không giải quyết nguyên nhân, hạt thường mọc lại, còn đốt nhiều lần gây xơ sẹo niêm mạc, làm họng khô rát và vướng nhiều hơn trước. Việc cần làm trước tiên là tìm và điều trị nguyên nhân: trào ngược dạ dày – thực quản, viêm mũi xoang chảy dịch xuống họng, dị ứng, hút thuốc lá, môi trường bụi – hóa chất, thói quen dùng giọng.
🔴 Không tự mua kháng sinh uống mỗi đợt đau họng. Viêm họng hạt mạn tính phần lớn không do vi khuẩn; dùng kháng sinh lặp lại gây kháng thuốc, rối loạn tiêu hóa và nấm họng mà không cải thiện bệnh. Cũng không tự ý ngừng thuốc trào ngược, thuốc dị ứng hay thuốc khác do bác sĩ kê.
Nghỉ giọng đúng cách: nói ít và nói nhẹ, không nói thầm (nói thầm làm dây thanh căng hơn); hạn chế đằng hắng và khạc mạnh vì càng kích thích niêm mạc, tạo vòng luẩn quẩn.
Sơn đậu căn nếu dùng phải rất thận trọng: vị này có độc, quá liều hoặc dùng kéo dài gây buồn nôn, chóng mặt, tổn thương gan và thần kinh. Cam thảo có mặt trong hầu hết bài trị họng – liều cao dài ngày gây giữ nước, tăng huyết áp, hạ kali máu, bất lợi ở người tăng huyết áp, suy tim, đang dùng lợi tiểu. Xạ can, Hạ khô thảo, Chi tử, Long đởm thảo tính hàn – thận trọng ở người tỳ vị hư hàn, hay đau bụng đi ngoài, và ở phụ nữ có thai. Bạc hà làm giảm tiết sữa, thận trọng ở phụ nữ đang cho con bú.
Ngậm mật ong hỗ trợ giảm ho và dịu họng nhưng không dùng cho trẻ dưới 1 tuổi (nguy cơ ngộ độc thịt), và thận trọng ở người đái tháo đường.
Châm cứu vùng cổ trước (Liêm tuyền, Thiên đột) phải châm nông, đúng hướng, do người có chuyên môn thực hiện. Cứu ngải chỉ dùng cho thể hư hàn; không cứu ngải cho thể âm hư hoả vượng hoặc Can hoả vượng (họng khô đỏ, lưỡi đỏ ít rêu, bốc hoả) vì sẽ làm nặng thêm. Không xoa bóp, day ấn mạnh vùng cổ ở người có mảng xơ vữa động mạch cảnh, và không day vào vùng có hạch cổ chưa rõ nguyên nhân.

Thay đổi nhỏ trong sinh hoạt – hạn chế tái phát lâu dài
- Uống đủ nước ấm, hạn chế đồ uống lạnh, cay nóng, nhiều dầu mỡ
- Súc họng nước muối ấm hằng ngày, giữ ấm vùng cổ khi trời lạnh
- Hạn chế nói to, nói liên tục kéo dài; nghỉ giọng khi có dấu hiệu khàn tiếng
- Điều trị và theo dõi lâu dài viêm mũi xoang, trào ngược dạ dày nếu có
- Không hút thuốc lá, hạn chế rượu bia, tránh môi trường nhiều khói bụi
- Tái khám định kỳ khi hạt họng không giảm hoặc có dấu hiệu bất thường
Khi nào cần đến bệnh viện ngay
- 🔴 Khàn tiếng kéo dài trên 3 tuần, hoặc nuốt vướng – nuốt nghẹn tăng dần – phải nội soi tai mũi họng để loại trừ ung thư vùng họng – thanh quản. Nguy cơ cao nhất ở người trên 40 tuổi, hút thuốc lá, uống rượu lâu năm. Đây là những dấu hiệu không được điều trị kéo dài theo hướng “viêm họng hạt” mà bỏ qua bước soi.
- Ho ra máu, khạc đờm lẫn máu, hoặc chảy máu mũi tái diễn một bên kèm ngạt mũi một bên và ù tai một bên – cần soi vòm để loại trừ ung thư vòm họng.
- Sờ thấy hạch cổ cứng, không đau, to dần trên 3 tuần; sụt cân không rõ nguyên nhân; đau tai một bên kèm đau họng một bên.
- Loét ở họng hoặc lưỡi không lành sau 2 tuần, mảng trắng hoặc đỏ bất thường ở niêm mạc miệng – họng.
- Khó thở, thở rít, không nuốt được nước bọt, chảy nước dãi, sốt cao, đau họng dữ dội, không há được miệng, hoặc sưng đau một bên họng lệch lưỡi gà – nghi áp xe quanh amidan hoặc viêm nắp thanh môn. Đây là cấp cứu, gọi 115.
- Trẻ em đau họng kèm thở rít, co kéo hõm ức, bỏ bú, li bì – đưa đi cấp cứu ngay.
- Đau họng kèm sốt cao, hạch góc hàm, đau khớp, tiểu ít – phù mặt sau vài tuần – nghi biến chứng của viêm họng do liên cầu (thấp tim, viêm cầu thận cấp), cần khám và làm xét nghiệm.
- Đau rát họng kèm ợ nóng, ợ chua, đau thượng vị, nuốt vướng về đêm – cần nội soi dạ dày; trào ngược là nguyên nhân rất hay bị bỏ sót của viêm họng hạt kéo dài, chữa họng đơn thuần sẽ không đỡ.
- Người suy giảm miễn dịch, đái tháo đường, đang dùng corticoid kéo dài mà đau họng, mảng trắng ở họng – cần khám sớm vì dễ nhiễm nấm và nhiễm khuẩn nặng.
🔴 Không tự ý đốt hạt nhiều lần, không tự mua kháng sinh từng đợt, và không tự ngừng thuốc do bác sĩ kê (thuốc trào ngược, thuốc dị ứng, thuốc điều trị bệnh nền). Đông y ở đây giữ vai trò dưỡng âm lợi hầu, hóa đàm, thanh hư hoả và điều chỉnh sinh hoạt – không thay thế việc nội soi và điều trị chuyên khoa tai mũi họng.
Thông tin trên mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và chỉ định của thầy thuốc hoặc bác sĩ trực tiếp khám.
Bạn đang cần
điều trị bệnh
hiệu quả?
Liên hệ ngay với Minh Đạo Đường để được thăm khám
trực tiếp bởi thầy Sinh Đông Y.

