Sự tích tụ tà khí bên trong làm tổn thương gân xương lâu dài


Thấp nhiệt nội sinh và đàm thấp tích trệ là hai thể bệnh thường gặp trong Đông y, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hệ cơ xương khớp. Chúng hình thành khi tạng phủ suy yếu, cơ thể không chuyển hóa được thấp – nhiệt – đàm – trọc, khiến độc tố tích tụ trong kinh lạc và khớp. Tình trạng này gây đau mỏi, sưng tấy, nặng nề tay chân, và kéo dài nếu không được điều trị đúng gốc.

Biểu hiện bệnh lý cơ xương khớp từ rối loạn tạng phủ
Người bệnh thường cảm thấy đau nhức mỏi các khớp, nặng nề tứ chi, cơ thể uể oải, chất lưỡi dày – rêu vàng – lưỡi nhờn. Y học cổ truyền cho rằng đây là hệ quả của sự tích tụ đàm – thấp – nhiệt trong cơ thể, nhất là khi tỳ, can, thận bị hư yếu không hóa giải được tà khí. Nếu không điều trị đúng gốc, lâu ngày gây thoái hóa xương khớp, viêm khớp mãn tính, sưng đỏ và biến dạng khớp.
Nội nhân và ngoại tà kết hợp – rối loạn tỳ vị và khí huyết
Thấp nhiệt nội sinh và đàm thấp tích trệ là kết quả của sự rối loạn chuyển hóa bên trong, kết hợp với tà khí xâm nhập từ bên ngoài như phong – hàn – thấp – nhiệt, làm bế tắc khí huyết và tổn thương kinh lạc.
6 nguyên nhân phổ biến:

1. Tỳ vị hư yếu:
Không hóa được thủy thấp, tạo điều kiện cho đàm trọc tích tụ, gây nặng nề thân thể và đau nhức khớp.

2. Ăn uống nhiều dầu mỡ, cay nóng:
Gây tích tụ nhiệt độc, làm gan và tỳ hoạt động quá mức, sinh nhiệt nội và thấp.

3. Ở nơi ẩm thấp, khí hậu thấp nhiệt:
Môi trường sống ảnh hưởng lớn tới cơ thể, gây thấm thấp vào cơ thể làm tê mỏi, viêm khớp, sưng nóng đỏ.

4. Stress kéo dài:
Làm rối loạn gan khí, dẫn tới nhiệt uất, cản trở khí huyết, dễ sinh thấp nhiệt nội sinh.

5. Hoạt động ít, ngồi lâu:
Ít vận động làm khí huyết trì trệ, dịch cơ thể không lưu thông dễ sinh thấp đàm.

6. Thận hư – khí huyết hư:
Không làm chủ được hệ thống thủy thấp, gây tích tụ nội tà, lâu ngày thành đàm thấp – thấp nhiệt.

Ai dễ bị thấp nhiệt và đàm thấp?
- Người béo, ít vận động
- Người ăn uống kém điều độ (nhiều rượu bia, đồ chiên xào)
- Người sống lâu trong vùng ẩm thấp
- Bệnh nhân viêm khớp mạn, thoái hóa khớp, gout thể thấp nhiệt
Tứ chi nặng nề, sưng đau khớp, mệt mỏi kéo dài
- Đau nhức mỏi vai gáy, lưng, gối, cổ chân cổ tay
- Tứ chi nặng nề, sưng phù nhẹ
- Khớp đau âm ỉ hoặc từng đợt sưng nóng đỏ
- Lưỡi rêu vàng dày, miệng đắng, đại tiện dính nhớt

Biện chứng Đông y dựa trên thể thấp – nhiệt – đàm trệ
Dựa trên các biểu hiện lâm sàng và tứ chẩn để phân biệt thể bệnh: thấp nhiệt, đàm thấp, hoặc kết hợp với phong hàn thấp.
Chẩn đoán lâm sàng (theo Đông y):
- Sưng đau khớp, nặng nề thân thể, chán ăn, mệt mỏi
- Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt hoặc huyền sác
Tứ chẩn Đông y
- Vọng chẩn: quan sát thể trạng (thường người bệu, béo bụng), sắc da nhờn – dễ nổi mụn nhọt, khớp sưng nóng đỏ, chân phù nề; chất lưỡi đỏ, rêu vàng dày nhớt là dấu hiệu điển hình nhất của thấp nhiệt.
- Văn chẩn: nghe tiếng nói (thường to, thô), hơi thở, tiếng sôi bụng; và ngửi – hơi thở hôi, mùi cơ thể và mồ hôi nồng, nước tiểu khai đậm, phân nặng mùi đều là biểu hiện của thấp nhiệt; đây là nhóm bệnh mà ngửi có giá trị chẩn đoán rõ.
- Vấn chẩn: hỏi cảm giác nặng nề mình mẩy, miệng đắng – miệng dính nhớt, khát mà không muốn uống nhiều, đại tiện dính bồn – nặng mùi, tiểu vàng sẫm – tiểu buốt, ra mồ hôi nhiều mà không dễ chịu, thói quen rượu bia – đồ chiên rán – đồ ngọt, và bệnh nền cùng thuốc đang dùng.
- Thiết chẩn: sờ da vùng khớp thấy nóng, sờ bụng đầy tức; bắt mạch – hoạt sác gợi thấp nhiệt, huyền hoạt gợi đàm thấp kèm can uất.
Chẩn đoán cận lâm sàng (theo Y học hiện đại):
- Xét nghiệm máu: tăng CRP, ESR, men gan
- Siêu âm khớp hoặc X-quang: có thể thấy tràn dịch hoặc tổn thương nhẹ
Thanh thấp – hóa đàm – lợi thấp – điều tỳ – dưỡng can thận
- Thang thuốc theo thể: thấp nhiệt hạ tiêu (khớp gối – cổ chân sưng nóng, tiểu vàng buốt, rêu vàng nhớt gốc lưỡi) – Tứ diệu tán, Nhị diệu tán, Bát chính tán; thấp nhiệt uẩn kết ở khớp – Tuyên tý thang, Bạch hổ gia quế chi thang; thấp nhiệt ở Can Đởm (miệng đắng, sườn tức, mắt đỏ) – Long đởm tả can thang, Nhân trần cao thang; đàm thấp tích trệ (người bệu, nặng nề, rêu trắng nhớt) – Nhị trần thang, Ôn đởm thang, Bình vị tán; tỳ hư sinh thấp (mệt, ăn kém, phân nát) – Sâm linh bạch truật tán, Hoắc hương chính khí tán. Pháp trị: thanh nhiệt trừ thấp, kiện tỳ hóa đàm. Long đởm tả can thang và Bát chính tán tính đại hàn, chỉ dùng ngắn ngày, không dùng cho người tỳ vị hư hàn và phụ nữ có thai.
- Châm cứu huyệt Can du, Tỳ du, Thận du, Túc tam lý, Âm lăng tuyền
- 🔴 Không cứu ngải, không chườm nóng, không xông hơi nóng, không xoa dầu nóng khi đang ở thể thấp nhiệt (lưỡi đỏ rêu vàng nhớt, khớp sưng nóng đỏ, miệng đắng, tiểu vàng sẫm, mạch hoạt sác). Cứu ngải là pháp ôn bổ – dùng cho thể này sẽ làm nhiệt bốc lên và bệnh nặng thêm rõ rệt. Chỉ dùng cứu ngải khi bệnh đã chuyển sang thể tỳ hư hàn thấp (hết sưng nóng, người lạnh, phân nát, lưỡi nhợt rêu trắng), và do thầy thuốc quyết định.
- Xoa bóp – bấm huyệt để thông kinh hoạt lạc. Giác hơi chỉ làm khi da lành lặn: không giác lên khớp đang sưng nóng đỏ, không giác lên vùng da viêm – trầy xước – có vảy nến (dễ làm bùng phát tổn thương mới), không giác ở người rối loạn đông máu, người đang dùng thuốc chống đông, phụ nữ có thai và người quá gầy yếu.
- Thực dưỡng: giảm chất béo – tăng cám gạo, nghệ, tía tô, đậu đỏ
Lưu ý an toàn khi dùng thuốc và trị liệu
🔴 “Thấp nhiệt nội sinh – đàm thấp tích trệ” là cách gọi theo Đông y cho một nhóm biểu hiện, không phải một chẩn đoán bệnh. Bên dưới có thể là những bệnh rất khác nhau và cần xử trí khác nhau: gout, viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp dạng thấp, hội chứng chuyển hóa – gan nhiễm mỡ, viêm gan, nhiễm khuẩn tiết niệu, đái tháo đường. Vì vậy trước khi điều trị dài ngày cần làm xét nghiệm để biết rõ đang chữa bệnh gì.
🔴 Khớp sưng nóng đỏ đau cấp kèm sốt: phải loại trừ viêm khớp nhiễm khuẩn – chọc hút dịch khớp và dùng kháng sinh trong 24 giờ đầu. Trong tình huống này không xoa bóp, không giác hơi, không chườm nóng, không cứu ngải, không đắp lá.
🔴 Không tự ý ngừng thuốc bệnh nền do bác sĩ kê – thuốc hạ acid uric, thuốc đái tháo đường, thuốc huyết áp, thuốc mỡ máu, thuốc điều trị viêm gan. Và không tự mua thuốc xương khớp trôi nổi: nhiều loại bị trộn lén corticoid và thuốc giảm đau chống viêm – hết đau ngay nên rất dễ tin, nhưng dùng lâu gây loét – xuất huyết dạ dày, loãng xương, tăng huyết áp, tăng đường huyết, suy tuyến thượng thận.
Vị thuốc cần thận trọng: nhóm thanh nhiệt táo thấp tính đại hàn (Hoàng liên, Hoàng bá, Long đởm thảo, Chi tử, Đại hoàng) chỉ dùng khi thật có nhiệt, không dùng kéo dài vì hại tỳ vị gây tiêu lỏng chán ăn, và chống chỉ định ở phụ nữ có thai. Ý dĩ, Trạch tả, Mộc thông: Ý dĩ không dùng cho phụ nữ có thai; Trạch tả dùng cùng lợi tiểu tây y dễ mất kali; Mộc thông phải là loại đúng vị – Mộc thông thuộc họ Aristolochia gây suy thận, tuyệt đối không dùng. Cam thảo liều cao dài ngày gây giữ nước, tăng huyết áp, hạ kali máu. Nghệ liều cao thận trọng với người dùng thuốc chống đông và người có sỏi mật.
Về ăn uống: giảm rượu bia, đồ chiên rán, nước ngọt, nội tạng và hải sản (nhất là khi có tăng acid uric); uống đủ nước. Người thừa cân giảm cân từ từ – giảm cân quá nhanh có thể làm bùng cơn gout cấp. Lưu ý mục “giữ ấm cơ thể” ở phần phòng bệnh áp dụng cho người thể hàn thấp; người đang ở thể thấp nhiệt thì tránh ủ nóng, tránh xông hơi nóng, nên ở nơi thoáng mát và khô ráo.

Điều chỉnh ăn uống – giữ ấm cơ thể – vận động điều độ
- Tránh đồ ăn béo, cay, chiên rán, rượu bia
- Giữ ấm cơ thể, đặc biệt khi giao mùa
- Vận động nhẹ nhàng mỗi ngày, đi bộ, xoa bóp dưỡng sinh
- Khám và xét nghiệm chức năng gan định kỳ. ⚠️ Không tự uống các loại thuốc, trà hay bột quảng cáo là thải độc gan bán trôi nổi – chính đông dược là một nguyên nhân gây viêm gan do thuốc khá thường gặp: Hà thủ ô đỏ chế biến không đúng, Thương lục, Xuyên luyện tử, Ba đậu, lô hội liều cao, chiết xuất trà xanh liều cao, actisô liều rất cao dùng kéo dài, cùng thuốc tễ – thuốc nam trôi nổi bị trộn tân dược. Đang uống thuốc thang mà men gan tăng thêm thì ngừng ngay và báo thầy thuốc.
Khi nào cần đến bệnh viện ngay
- 🔴 Một khớp sưng nóng đỏ đau dữ dội kèm sốt, rét run – nghi viêm khớp nhiễm khuẩn, cần chọc hút dịch khớp và kháng sinh trong 24 giờ đầu. Nguy cơ cao ở người đái tháo đường, người dùng corticoid, người vừa tiêm khớp.
- Ngón chân cái sưng nóng đỏ đau dữ dội trong đêm, tái phát từng đợt sau rượu bia – bữa nhiều đạm – nghi gout. Gout không kiểm soát gây hạt tô phi, sỏi thận và suy thận. Trong cơn cấp: nghỉ, kê cao, chườm mát – không xoa bóp, không cứu ngải, không chườm nóng.
- Sốt cao rét run kèm đau vùng thắt lưng một bên, tiểu buốt – tiểu rắt – tiểu đục – nghi viêm thận – bể thận cấp, cần kháng sinh sớm.
- Vàng da, vàng mắt, nước tiểu sẫm màu, phân bạc màu, đau hạ sườn phải kèm sốt – nghi bệnh gan mật, cần khám ngay. Vàng da kèm lơ mơ, ngủ gà, nói lẫn, run vẫy tay – nghi bệnh não gan, là cấp cứu.
- Men gan tăng lên trong khi đang uống thuốc thang, hoặc xuất hiện mệt nhiều, chán ăn, buồn nôn, ngứa – ngừng thuốc ngay và đi khám.
- Đau bụng dữ dội vùng trên rốn lan ra sau lưng, nôn nhiều, nhất là sau bữa rượu bia hoặc ở người triglyceride rất cao – nghi viêm tuỵ cấp, cấp cứu.
- Mụn nhọt lớn, sưng tấy lan rộng, chảy mủ kèm sốt, đặc biệt ở người đái tháo đường – nhiễm khuẩn mô mềm, cần kháng sinh, không tự nặn, không đắp lá.
- Khát nhiều, tiểu nhiều, sụt cân nhanh, mệt lả – tầm soát đái tháo đường. Đau ngực khi gắng sức, khó thở, phù chân – khám tim mạch; hội chứng chuyển hóa đi kèm nguy cơ tim mạch cao.
- Phù toàn thân, tiểu ít, nước tiểu có bọt nhiều – nghi bệnh thận, cần xét nghiệm; đây cũng là lý do không được dùng bừa các bài lợi thấp lợi tiểu kéo dài.
- Cứng khớp buổi sáng trên 30 phút, sưng đau đối xứng nhiều khớp nhỏ bàn tay kéo dài trên 6 tuần – nghi viêm khớp dạng thấp, cần điều trị thuốc nền sớm.
🔴 Không tự ý ngừng thuốc bệnh nền do bác sĩ kê. Đông y ở đây giữ vai trò thanh nhiệt trừ thấp, kiện tỳ hóa đàm và điều chỉnh ăn uống – sinh hoạt – không thay thế việc xét nghiệm tìm nguyên nhân và điều trị chuyên khoa.
Thông tin trên mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và chỉ định của thầy thuốc hoặc bác sĩ trực tiếp khám.
Bạn đang cần
điều trị bệnh
hiệu quả?
Liên hệ ngay với Minh Đạo Đường để được thăm khám
trực tiếp bởi thầy Sinh Đông Y.
