Viêm gân – viêm bao gân: khi chuyển động nhẹ cũng gây đau nhói


Viêm gân là tình trạng gân cơ bị viêm, phù nề, đau nhức khi vận động, còn viêm bao gân là tình trạng viêm lớp bao trơn bọc quanh gân, thường gặp ở các vị trí phải cử động lặp lại như vai, khuỷu, cổ tay, gót chân.
Đây là những tổn thương mạn tính thường bị bỏ qua cho đến khi gân xơ hóa, dày lên, dính với bao gân, gây hạn chế vận động, đau kéo dài và suy giảm khả năng lao động.
Đông y xếp bệnh này vào nhóm “cân thống – thư cân bất lợi”, nguyên nhân do khí huyết ứ trệ, phong thấp xâm nhập, hoặc can thận hư yếu khiến gân cơ không được nuôi dưỡng.

Viêm gân không chỉ là đau cơ – mà là tổn thương sâu bên trong hệ vận động
Viêm gân và viêm bao gân ảnh hưởng nghiêm trọng đến các khớp vận động nhiều như gối, vai, khuỷu, cổ tay, cổ chân. Người bệnh thường đau khi cử động, sưng tại chỗ, có thể phát ra tiếng lạo xạo khi vận động. Nếu để kéo dài, gân có thể bị xơ hóa, canxi hóa, gây co rút, teo cơ và mất chức năng vận động.
Phần lớn trường hợp đáp ứng tốt với điều trị bảo tồn nếu can thiệp sớm và sửa được động tác gây bệnh.
Vì sao gân và bao gân bị viêm âm thầm mà không biết?
Viêm gân – viêm bao gân là hậu quả của vận động quá mức, lặp đi lặp lại hoặc sai tư thế, gây tổn thương vi thể tích lũy theo thời gian. Kết hợp với thiếu máu nuôi dưỡng gân, thoái hóa do tuổi tác, hoặc phong hàn thấp xâm nhập dẫn đến sưng, viêm, xơ hóa.
6 nguyên nhân phổ biến gồm:

1. Vận động lặp đi lặp lại – nghề nghiệp đặc thù
Người làm văn phòng, công nhân dây chuyền, đánh máy, cắt tóc… thường xuyên lặp động tác nhỏ, dẫn đến viêm bao gân gấp cổ tay, khuỷu, vai.

2. Vận động sai tư thế – cử động đột ngột quá sức
Nâng vật sai cách, xoay người mạnh, tập gym không đúng kỹ thuật dễ làm rách vi thể gân – bao gân, dẫn đến viêm mạn.

3. Tuổi tác – gân bao gân bị xơ hóa, thoái hóa
Từ tuổi 40 trở đi, collagen trong gân giảm, dịch khớp và chất bôi trơn quanh bao gân giảm, khiến gân dễ bị tổn thương và viêm lâu ngày.

4. Viêm khớp – bệnh lý chuyển hóa (gout, tiểu đường)
Các phản ứng viêm hệ thống lan tỏa có thể ảnh hưởng đến bao gân, gây viêm đau tái phát nhiều lần, khó lành.

5. Thiếu máu nuôi dưỡng gân – khí huyết ứ trệ (Đông y)
Gân thuộc can, được thận sinh. Khi can huyết không đủ, thận tinh suy, gân cơ thiếu dinh dưỡng sẽ yếu, co cứng, dễ viêm khi hoạt động nhiều.

6. Phong hàn thấp xâm nhập – chính khí suy yếu (Đông y)
Thời tiết lạnh ẩm hoặc môi trường ẩm thấp lâu ngày khiến phong hàn thấp tích tụ tại vùng gân – khớp, gây ứ trệ khí huyết, phát sinh viêm và co rút.

Ai có nguy cơ cao bị viêm gân – viêm bao gân?
– Người làm việc văn phòng, máy tính, sử dụng cổ tay liên tục
– Người chơi thể thao cường độ cao (gym, tennis, cầu lông)
– Người trung niên – cao tuổi
– Người mắc viêm khớp, gout, tiểu đường
– Người từng chấn thương vùng khớp – gân
– Người làm việc trong môi trường lạnh ẩm
Cảnh giác khi chỉ cử động nhẹ cũng thấy đau
– Đau nhói tại vùng gân khi co duỗi, đặc biệt khi bắt đầu vận động
– Sưng, nóng, đỏ tại vị trí gân đi qua khớp
– Có cảm giác căng, dính hoặc như “bóp nghẹt” tại vùng viêm
– Đau tăng khi ấn vào gân hoặc dùng lực kéo gân
– Có tiếng rít, lạo xạo khi gân chuyển động
– Vận động giảm dần, có thể mất chức năng vùng đó nếu viêm mạn

Chẩn đoán chính xác vị trí – mức độ – loại tổn thương
Việc xác định đúng gân – bao gân bị viêm giúp tránh chẩn đoán nhầm với đau thần kinh, thoái hóa khớp hay tổn thương cơ.
Chẩn đoán lâm sàng:
– Đau theo đường đi của gân, test vận động vùng tổn thương dương tính
– Ấn tại vị trí bám gân gây đau rõ rệt
– Co cơ chống lại lực cản gây đau tăng
– Tứ chẩn Đông y: vọng vùng sưng nề và sắc da; văn giọng nói khi than đau và tiếng cọ xát của gân khi cử động (nếu có); vấn nghề nghiệp và động tác lặp lại gây đau; thiết chẩn sờ dọc đường gân tìm điểm đau và tiếng lạo xạo, mạch huyền khẩn – biện thể khí trệ huyết ứ hay phong hàn thấpChẩn đoán cận lâm sàng (theo Y học hiện đại):
– Siêu âm: dày bao gân, tụ dịch quanh gân, viêm mô mềm
– MRI: xơ hóa – thoái hóa – canxi hóa quanh gân
– Xét nghiệm máu: loại trừ bệnh lý viêm khớp, gout, tự miễn
– X-quang: khi nghi có vôi hóa hoặc chồi xương ảnh hưởng bao gânCấp cứu ngoại khoa – không được bỏ sót: ngón tay hoặc bàn tay sưng nóng đỏ sau một vết đâm hoặc xước nhỏ, ngón ở tư thế hơi gập, đau dọc bao gân và đau tăng dữ dội khi duỗi thụ động ngón – đây là viêm bao gân gấp nhiễm khuẩn, cần mổ dẫn lưu và kháng sinh trong vòng 24 giờ; chậm có thể mất chức năng ngón vĩnh viễn. Tuyệt đối không xoa bóp, chườm nóng hay đắp thuốc trong trường hợp này.
Mất hẳn khả năng gấp hoặc duỗi một ngón sau chấn thương gợi ý đứt gân – cần khám chấn thương chỉnh hình sớm vì khâu gân muộn rất khó.
Đông y trị viêm gân – tiêu viêm – giải dính – phục hồi vận động
Sinh Đông Y điều trị viêm gân theo nguyên tắc: tiêu viêm – thông kinh – mạnh gân – bổ can thận – phục hồi chức năng, gồm:
– Châm cứu, bấm huyệt chuyên sâu vùng gân tổn thương: giảm viêm – giảm đau nhanh
– Cứu ngải – giác hơi – đắp thuốc: tiêu ứ trệ, làm mềm tổ chức quanh gân – áp dụng ở giai đoạn mạn tính; khi đang sưng nóng đỏ thì nghỉ và chườm mát
– Thảo dược hoạt huyết, bổ can thận, mạnh gân cơ: phục hồi tổ chức gân
– Bài tập kéo giãn và phục hồi vận động: chống co rút; ưu tiên bài tập co cơ lệch tâm (eccentric) – phương pháp có bằng chứng tốt nhất với bệnh lý gân mạn tính, kết hợp nghỉ tương đối và sửa động tác sai
– Điều trị hướng bảo tồn, không xâm lấn – với ngón tay lò xo, hội chứng De Quervain hoặc viêm gân không đỡ sau điều trị bảo tồn, tiêm corticoid tại chỗ hoặc phẫu thuật giải phóng bao gân vẫn là lựa chọn hiệu quả, do bác sĩ chuyên khoa quyết định
Cổ phương thường dùng theo thể bệnh
Viêm gân – viêm bao gân thuộc phạm vi chứng Cân tí – Cân thương, do lao động quá tải làm tổn thương kinh cân, phối thêm phong hàn thấp hoặc huyết ứ. 🔵 Điểm chuyên môn quan trọng: viêm gân MẠN tính thực chất là THOÁI HÓA gân chứ không phải viêm – vì vậy bài tập co cơ lệch tâm là phương pháp có bằng chứng tốt nhất, cần làm đều đặn nhiều tuần; nghỉ tuyệt đối kéo dài làm gân yếu thêm. Thuốc phải kê theo thể, không dùng chung một bài cho mọi người. Nguyên tắc: còn thực tà thì khu tà trước, bổ sau.
- Phong hàn thấp tí (đau tăng khi trời lạnh ẩm, chườm ấm thì dễ chịu, co cứng cơ, rêu trắng, mạch huyền khẩn) – Quyên tí thang, Phòng phong thang, Quế chi phụ tử thang hoặc Ma hoàng phụ tử tế tân thang (hàn nặng), Cát căn thang (cứng gáy vai). Có thể cứu ngải ở thể này.
- Thấp nhiệt (vùng đau nóng rát, sợ nóng, miệng đắng, nước tiểu vàng, lưỡi đỏ rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác) – Tứ diệu tán, Tuyên tí thang, Bạch hổ gia quế chi thang. 🔴 Thể này không cứu ngải, không chườm nóng, không xoa dầu nóng.
- Huyết ứ – khí trệ (đau cố định như kim châm, đau tăng về đêm, có tiền sử chấn thương hoặc bệnh lâu ngày, lưỡi tím có điểm ứ) – Thân thống trục ứ thang, Phục nguyên hoạt huyết thang; chọn bài trục ứ theo vị trí – vùng ngực dùng Huyết phủ trục ứ thang, vùng bụng dưới cơ hoành dùng Cách hạ trục ứ thang.
- Đàm thấp (người nặng nề, thừa cân, tê bì, rêu dày nhớt) – Nhị trần thang hợp Đào hồng ẩm, Ý dĩ nhân thang.
- Can thận hư (thể nền của bệnh mạn: lưng gối mỏi yếu, ù tai, tiểu đêm, mạch trầm tế) – Độc hoạt tang ký sinh thang, Tam tí thang; thiên dương hư dùng Hữu quy hoàn / Kim quỹ thận khí hoàn, thiên âm hư dùng Tả quy hoàn / Tri bá địa hoàng hoàn; teo cơ yếu chi dùng Hổ tiềm hoàn.
- Khí huyết hư, tê bì do huyết tí – Hoàng kỳ quế chi ngũ vật thang, Bát trân thang. Chuột rút, co cứng cơ – phối Thược dược cam thảo thang.
🔵 Nói rõ để có kỳ vọng đúng: thuốc thang, châm cứu và xoa bóp giúp giảm đau, giảm co cứng cơ và phục hồi chức năng vận động, nhưng không tái tạo được đĩa đệm hay sụn khớp, không phục hồi chiều cao đĩa đệm, không đưa đĩa đệm về vị trí, không làm mất gai xương và không giải phóng được chèn ép cơ học. Đĩa đệm người lớn vô mạch, nuôi bằng khuếch tán qua tấm sụn tận nên không có chuyện “tăng tuần hoàn tại đĩa đệm”. Tập cơ lưng – cơ bụng và sửa tư thế là phần điều trị chính, không phải phần phụ.
⚠️ An toàn về vị thuốc: Phụ tử phải là Phụ tử chế (có độc, sắc trước, theo kê đơn); Ô đầu, Thảo ô, Mã tiền tử rất độc, nếu dùng phải là dạng chế, liều nhỏ; Tế tân liều nhỏ; Cam thảo liều cao dài ngày gây giữ nước, tăng huyết áp, hạ kali. Nhóm hoạt huyết (Đan sâm, Xuyên khung, Tam thất, Hồng hoa, Kê huyết đằng, nghệ liều cao) dùng cùng thuốc chống đông gây chảy máu. Rượu thuốc xoa bóp không được uống và không xoa lên da trầy xước. Phụ nữ chậm kinh phải thử thai trước khi điều trị; khi có thai chống chỉ định thuốc hoạt huyết phá huyết (Ngưu tất, Đào nhân, Hồng hoa, Nga truật, Tam lăng) và các huyệt Hợp cốc, Tam âm giao, Khí hải, Quan nguyên, Kiên tỉnh, Côn lôn, vùng bụng dưới – thắt lưng cùng. ⚠️ Thuốc xương khớp trôi nổi rất hay bị trộn lén corticoid và thuốc giảm đau chống viêm – hết đau rất nhanh nên dễ tin, dùng lâu gây loét dạ dày, loãng xương, tăng huyết áp, tăng đường huyết và suy tuyến thượng thận.

Phòng viêm gân – bảo vệ khớp vận động khỏi xơ hóa – dính cứng
– Không lặp lại động tác quá mức trong thời gian dài
– Khởi động kỹ trước thể thao, vận động
– Giữ ấm khớp – gân, tránh lạnh – ẩm kéo dài
– Ăn uống đủ collagen, vitamin D, omega-3
– Tập luyện đều để nuôi dưỡng gân, tránh teo cơ
– Khám và điều trị sớm nếu thấy đau kéo dài trên 7 ngày
Khi nào cần đến bệnh viện ngay
- 🔴 Viêm bao gân gấp nhiễm khuẩn ở bàn tay – cấp cứu ngoại khoa, phải mổ dẫn lưu trong 24 giờ, để muộn là hỏng gây và mất chức năng bàn tay. Bốn dấu hiệu Kanavel: ngón sưng đều như khúc dồi, giữ tư thế hơi gấp, đau dọc theo bao gân, đau vọt khi duỗi ngón thụ động – thường sau vết xước, đâm chích, gấc cá hay cắt móng sâu. Không đắp lá, không chích nặn, không xoa bóp.
- Sưng nóng đỏ lan nhanh kèm sốt, rét run, nổi hạch nách – bẹn, vệt đỏ chạy dọc chi – nhiễm khuẩn phần mềm đang lan, phải dùng kháng sinh ngay.
- 🔴 Đau dữ dội ở gót sau khi nghe tiếng “bụp”, không kiễng chân lên được, sờ thấy hổm khuyết trên gân gót – nghi đứt gân gót Achilles, cần khám ngoại khoa sớm. Tương tự: không giơ nổi tay lên sau chấn thương vai (rách chóp xoay), ngón tay không duỗi được (đứt gân duỗi). Những trường hợp này châm cứu và thuốc thang không nối liền được gân đã đứt.
- ⚠️ Đang uống kháng sinh nhóm quinolon (ciprofloxacin, levofloxacin, ofloxacin) mà đau gân gót – nhóm thuốc này có thể gây viêm và đứt gân, nhất là ở người trên 60 tuổi, người dùng corticoid, người ghép tạng: phải báo bác sĩ ngay và ngừng gắng sức – đây là điều rất hay bị bỏ sót.
- Viêm gân ở nhiều vị trí cùng lúc, hai bên đối xứng, cứng khớp buổi sáng trên 1 giờ, kèm đau gót – sưng cả ngón như khúc dồi, đau lưng kiểu viêm ở người trẻ, vảy nến ngoài da, loét miệng, đỏ mắt – không phải viêm gân do quá tải: gợi ý bệnh khớp tự miễn, cần xét nghiệm và khám chuyên khoa cơ xương khớp.
- Khớp sưng nóng đỏ đột ngột ở ngón chân cái, cổ chân, gối, đau dữ dội về đêm – nghi gout cấp, không phải viêm gân: không xoa bóp, không cứu ngải, không chườm nóng.
- Tê bì, yếu cơ, teo cơ vùng bàn tay hoặc cẳng chân kèm theo – không còn là bệnh của gân: cần đo điện cơ tìm chèn ép thần kinh.
- Đau gân – xương kèm sụt cân, sốt về chiều, mồ hôi đêm, đau tăng về đêm không liên quan vận động – phải loại trừ lao, nhiễm khuẩn và tổn thương ác tính trước khi điều trị kéo dài.
Lưu ý an toàn
- 48–72 giờ đầu sau chấn thương hoặc khi đang sưng nóng: nghỉ – chườm MÁT – băng ép – kê cao. Không xoa dầu nóng, không xoa rượu thuốc, không chườm nóng, không cứu ngải, không “nắn cho kêu rắc”. Chườm ấm và xoa bóp chỉ dùng khi đã hết sưng nóng, ở thể phong hàn thấp – hư hàn.
- 🔵 Viêm gân mạn tính thực chất là thoái hóa gân, không phải viêm: bài tập co cơ lệch tâm là phương pháp có bằng chứng tốt nhất, cần làm đều đặn nhiều tuần. Nghỉ tuyệt đối kéo dài làm gân yếu thêm; cần giảm tải rồi tăng dần, không nghỉ hẳn.
- Tiêm corticoid quanh gân phải do bác sĩ thực hiện và hạn chế số lần: tiêm nhiều lần làm yếu gân và dễ đứt gân, đặc biệt ở gân gót. Không tiêm vào thân gân gót, không tiêm ở cơ sở không phép.
- ⚠️ Thuốc xương khớp trôi nổi hay bị trộn lén corticoid và thuốc giảm đau chống viêm: hết đau rất nhanh nên dễ tin, dùng lâu gây loét – xuất huyết dạ dày, loãng xương, tăng huyết áp, tăng đường huyết, suy tuyến thượng thận và làm gân dễ đứt. Chỉ dùng thuốc có nguồn gốc rõ ràng, do thầy thuốc kê đơn.
- Tìm bệnh nền làm gân dễ viêm: đái tháo đường, suy giáp, gout, rối loạn mỡ máu, béo phì – chữa đúng bệnh gốc thì gân mới bền. Không tự ý ngừng thuốc bác sĩ đã kê.
- Nhóm hoạt huyết (Đan sâm, Xuyên khung, Tam thất, Hồng hoa, Kê huyết đằng, nghệ liều cao) dùng cùng thuốc chống đông gây chảy máu. Rượu thuốc xoa bóp không được uống, không xoa lên da trầy xước. Phụ nữ chậm kinh phải thử thai trước khi điều trị; khi có thai chống chỉ định thuốc hoạt huyết và các huyệt Hợp cốc, Tam âm giao, Khí hải, Quan nguyên, Kiên tỉnh.
Thông tin trên mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và chỉ định của thầy thuốc hoặc bác sĩ trực tiếp khám. Mức độ và thời gian cải thiện khác nhau ở mỗi người, không có cam kết chung.
Bạn đang cần
điều trị bệnh
hiệu quả?
Liên hệ ngay với Minh Đạo Đường để được thăm khám
trực tiếp bởi thầy Sinh Đông Y.
